Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược - SaleBox

MCP


Lazada Shopee Tiki Sendo

Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược

Tây Nguyên không chỉ được biết đến như điểm du lịch thu hút, với phong cảnh núi rừng bao la, rộng lớn, mà nơi đây còn mang đậm giá trị lịch sử – khi góp mặt trong các cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược. Hãy cùng chúng tôi lên “chiếc máy thời gian”, quay trở về những năm kháng chiến giành độc lập của các dân tộc Tây Nguyên.

Thực dân Pháp xâm lược Tây Nguyên vào đầu thế kỷ 20

Mở đầu cho cuộc xâm lược ở Tây Nguyên là vào cuối thế kỷ 19, quân phong kiến Xiêm La muốn đến lấn chiếm đất đai. Đến đầu thế kỷ 20 thì thực dân Pháp đem quân đóng tại khu vực sông Krông Knô và Krông Ana, với ý định xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, cướp đất lập đồn.

Chúng bắt người đồng bào các dân tộc Tây Nguyên phải nộp các khoản sưu, thuế cao; đánh vào việc săn bắn, làm rẫy, thuế đầu voi,…. Không dừng lại ở đó, chúng còn cướp bóc lúa gạo của người dân để dự trữ cho những cuộc hành quân, lấn chiếm của mình. Chính vì vậy mà đi đến đâu, thực dân Pháp cũng vấp phải những cuộc khởi nghĩa, đánh trả quyết liệt.

Những cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp ở Tây Nguyên

Phong trào tự phát của Ntrang Gưh – tù trưởng người Êđê Bih

Mở đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Tây Nguyên đó là phong trào tự phát của 25 buôn làng người Êđê và người Bih,…. Dưới sự chỉ huy của Ntrang Gưh – tù trưởng người Êđê Bih ở buôn Cuah Kplang.

Chính nhờ phong trào khởi nghĩa tự phát này, đã làm thất bại âm mưu xâm phạm vùng biên cương phía Tây Nam của Tổ Quốc. Vốn dĩ đây là cuộc “chiến đấu” không cân sức, khi thực dân Pháp được trang bị đầy đủ súng đạn, còn người dân tộc Tây Nguyên thì tự chế ra một loại nỏ đặc biệt để chiến đấu. Bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy tinh thần kiên cường, bất khuất và đoàn kết của người dân nơi đây.

Vì không lập được hệ thống đồn binh ở khu vực này, nên thực dân Pháp buộc phải di chuyển cơ quan hành chính của Đắk Lắk từ Buôn Đôn về Buôn Ama Thuột, sau đó thành lập thị xã – tỉnh lị, đồng thời mở nhiều tuyến đường như 14 – 21 – 27,… xuôi về đồng bằng, sang Campuchia để tiếp tục con đường xâm chiếm của mình.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kéo dài ròng rã suốt 13 năm, hơn 500 người của các buôn đã phải rời bỏ quê hương, mồ mả ông bà, theo tù trưởng Ntrang Gưh vào sâu trong rừng để lập căn cứ, quyết “sống mái” với giặc.

Đến năm 1915, tộc trưởng Ntrang Gưh bị phản bội, rơi vào tay giặc và bị xử chém đầu, cuộc kháng chiến cũng lắng xuống.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của tù trưởng Ama Jao – người Êđê Kpă

Tuy nhiên trong khoảng thời gian đó, rất nhiều cuộc kháng chiến bắt đầu được hình thành, cụ thể như:

– Từ năm 1900 – 1922, các tù trưởng (Aê H’Mai, Âe H’Phai, Ama Dla Vi…) đã liên minh với nhau, nổi dậy đấu tranh chống thực dân Pháp.

– Cuộc tập hợp lực lượng ở vùng lãnh thổ Amai, Ama Oai, Aê Sút, Ama Sô,… cũng thay nhau đứng lên lãnh đạo cuộc kháng chiến.

– Ngoài ra còn có những cuộc biểu tình tri thức của thầy giáo Y Jut và Y út, đòi đổi công sứ Sabachie.

Nổi bật trong số đó không thể không nhắc đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của tù trưởng Ama Jao – người Êđê Kpă. Ông vừa kết hợp đấu tranh chính trị lẫn đấu tranh vũ trang với giặc. Bọn thực dân Pháp tìm đủ mọi cách để mua chuộc nhưng Ama Jao không hề bị khuất phục, không những vậy còn đấu tranh mạnh mẽ hơn. Nhằm ngăn chặn sự bành trướng của cuộc khởi nghĩa, Pháp bao vây và cắt hết mọi con đường tiếp tế muối cũng như đồ sắt vào vùng Ama Jao cai quản. Sau khi bị giặt bắt, chúng ra sức đe dọa, muốn không khuất phục và dẹp yên lòng dân. Nhưng ông kiên quyết từ chối, chết trong tù chứ nhất định không đầu hàng.

Cuộc kháng chiến có quy củ nhất của tù trưởng Ntrang Lơng – người Mnông chống quân Pháp xâm lược

Khác với những cuộc khởi nghĩa trước đó, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kéo dài 25 năm của tù trưởng Ntrang Lơng – người Mnông được đánh giá là có quy củ nhất, khi tập trung đủ 3 lực lượng gồm: quân chủ lực thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trực tiếp, lực lượng tại bon lan và các đội trinh sát.

Tù trưởng Ntrang Lơng đứng lên kêu gọi và tập trung đông đảo người Mnông khắp vùng, ngoài ra còn có sự góp sức của người Êđê, Stiêng, Mạ ở Lâm Đồng,…. Công sứ Pháp ở Đắk Lắk Sabachie đã từng nhận xét rằng “Đây là cuộc kháng chiến có tổ chức, chuẩn bị. Là một cuộc nổi dạy toàn vùng”.

Trong suốt 15 năm, từ năm 1910 – 1925, dưới phong trào kháng chiến của tù trưởng Ntrang Lơng, quân xâm lược Pháp không chiếm đóng được một tấc đất nào của vùng Mnông để lập đồn.

Sau đó cuộc khởi nghĩa Ntrang Lơng bị dập tắt. Nhưng chính cuộc khởi nghĩa và những thành công này đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần chiến đấu, đấu tranh giành độc lập – chủ quyền của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Phong trào mới “Nước xu” của tù trưởng người Chăm Hroaih Săm Brăm

Ngay sau đó, phong trào mới “Nước xu” của tù trưởng người Chăm Hroaih Săm Brăm (vốn là thầy cúng) lãnh đạo đã bùng lên mạnh mẽ, lan rộng khắp Tây Nguyên và cả những tỉnh đồng bằng miền Trung trong những năm 1935 – 1939, khiến thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn.

Phong trào mới “Nước xu” có mục tiêu rất rõ ràng, đồng thời tiếp cận được với Việt Minh kháng Pháp. Đến năm 1938 quân Pháp bắt được Săm Brăm và giam ông 5 năm tại Đắk Lắk. Sau cách mạng tháng 8 ông có ra Bắc và gặp Hồ Chí Minh.

Trong khoảng thời gian Săm Brăm bị bắt, rất nhiều tù trưởng đã tiếp nối cuộc khởi nghĩa, đứng lên giành độc lập, nhiều người đã hy sinh, nhưng điều đó chỉ làm tăng thêm nhuệ khí và sự kiên cường của dân tộc Tây Nguyên.

Đến ngày nay, phong trào này vẫn trở thành huyền thoại đối với người dân tộc Tây Nguyên và được lưu giữ, truyền lại từ đời này sang đời khác qua trường ca Klei Khan Aê Săm Brăm.

Xem thêm:

Kết luận

Đến thời điểm hiện tại, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Tây Nguyên vẫn là nỗi đau và là niềm tự hào về tinh thần yêu nước và đoàn kết của các dân tộc. Đánh dấu thời kỳ vàng son trong phong trào chống giặc của quân và dân ta.

Nhận xét

Nhận Xét Chi Tiết

SaleBox
Logo
Shopping cart